web-bg.eu  |  Уеб каталог  |  Уеб зона  |  Уеб линкове

Viêm Loét đại Trực Tràng Chảy Máu

Viêm Loét đại Trực Tràng Chảy Máu


  1. Описание

Подробно описание


đau dạ dày là đau bên nào 

Viêm loét đại trực tràng chảy máu là bệnh thường gặp ở châu Âu và Bắc Mỹ, nhưng thời gian gần đây đang có xu hướng tăng lên ở châu á. Đây là thuốc có hiệu quả trong điều trị các đợt cấp nặng hoặc vừa nhất là thể viêm đại tràng toàn bộ hoặc đại tràng trái. Ngoài tác dụng ức chế miễn dịch, thuốc còn có tác dụng kháng viêm đặc biệt là ức chế men phospho lipase A2 nên ngăn chặn sự phóng thích của acid arachidonic từ các phospholipid. Trong đợt tiến triển mức độ vừa và nhẹ có thể dùng corticoid đường uống với liều 20 – 60mg/ ngày tuỳ theo tình trạng bệnh lý và cân nặng của bệnh nhân. Tác dụng phụ của thuốc đậc biệt khi dùng liều cao kéo dài: phù, rối loạn nước và điện giải, teo cơ, loãng xương, loét hoặc chảy máu tiêu hoá, kinh nguyệt không đều, rậm lông.. Chống chỉ định: nhiễm virus, nhiễm nấm điều trị dặc hiệu không khỏi, goute, loét dạ dày tá tràng, viêm gan cấp do virus. Tuỳ theo tình trạng của bệnh mà sử dụng một trong các chế phẩm như Sulfasalazin, Olssalazin, Mesalazin, Pentasa, với liều lượng khác nhau. Có thể sử dụng viên Mesalazin 500mg loại đặt hậu môn trong trường hợp viêm hậu môn. Một số thuốc khác. Azathioprin (Imuran): có hiệu quả trong một số trường hợp nặng, khi dùng thuốc cần chú ý bạch cầu hạt, khi lượng bạch cầu hạt trong máu ngoại vi < 1,5 G/L thì không dùng. Thuốc chống chỉ định đau bao tử đau bên nào  ở bệnh nhân có tổn thương ở gan, người có tiền sử bệnh gan và phụ nữ có thai. Cyclosporin: mới được đưa vào sử dụng với hiệu quả khá tốt.

Loại bỏ vi khuẩn Helicobacter pylori (Hp) với các loại kháng thể, kháng sinh, chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý. Từ bỏ các thói quen xấu: hút thuốc lá, uống rượu, làm việc quá sức, thường xuyên stress tâm lý. Hoa Kỳ, nhưng bệnh này phổ biến hơn ở các quốc gia khác. Đây là loại ung thư hàng đầu ở Triều Tiên, với 20,8% khối u ác tính. Kim Ngọc (1917-1979), „cha đẻ của đổi mới trong nông nghiệp“ ở Việt Nam. Cancer (Fact sheet N°297)“. Tumors of the GI Tract, Merck Manual (Professional)“. Proceedings of the fourth Global Vaccine Research Forum“ (PDF). Initiative for Vaccine Research team of the Department of Immunization, Vaccines and Biologicals. Lee HJ, Yang HK, Ahn YO (2002). Gastric cancer in Korea“. Gastric Cancer: Official Journal of the International Gastric Cancer Association and the Japanese Gastric Cancer Association 5 (3): 177-82. PMID 12378346. doi:10.1007/s101200200031. Alonso-Amelot ME, Avendaño M (tháng 3 năm 2002). „Human carcinogenesis and bracken fern: a review of the evidence“.

Chandanos, Evangelos (tháng 12 năm 2007). „Estrogen in the development of esophageal and gastric adenocarcinoma“ (PDF). Brooks-Wilson AR, Kaurah P, Suriano G và đồng nghiệp (2004). Germline E-cadherin mutations in hereditary diffuse gastric cancer: assessment of 42 new families and review of genetic screening criteria“. J. Med. Genet. 41 (7): 508-17. PMC 1735838. PMID 15235021. doi:10.1136/jmg.2004.018275. Venturi S, Venturi A, Cimini D, Arduini C, Venturi M, Guidi A (tháng 1 năm 1993). „A new hypothesis: iodine and gastric cancer“. Eur. J. Cancer Prev. Venturi S, Venturi M (tháng 4 năm 1999). „Iodide, thyroid and stomach carcinogenesis: evolutionary story of a primitive antioxidant? Eur. J. Endocrinol. 140 (4): 371-2. PMID 10097259. doi:10.1530/eje.0.1400371. Venturi S, Donati FM, Venturi A, Venturi M, Grossi L, Guidi A (tháng 1 năm 2000). „Role of iodine in evolution and carcinogenesis of thyroid, breast and stomach“. Abnet CC, Fan JH, Kamangar F và đồng nghiệp (tháng 9 năm 2006). „Self-reported goiter is associated with a significantly increased risk of gastric noncardia adenocarcinoma in a large population-based Chinese cohort“.

  1. Điều trị tại chỗ:
  2. Dùng thuốc trung hoà acid clohydric đã được bài tiết vào dạ dày – tá tràng
  3. Hội chứnh Dumping và trào ngược mật tụy
  4. Thực phẩm thô
  5. Chẩn đoán 3.1 Mô bệnh học

ao dai trang - Ao Dai Trang - Phi vu - Pinterest - Ao Dai

Behrouzian R, Aghdami N (tháng 11 năm 2004). „Urinary iodine/creatinine ratio in patients with stomach cancer in Urmia, Islamic Republic of Iran“. Gulaboglu M, Yildiz L, Celebi F, Gul M, Peker K (2005). Comparison of iodine contents in gastric cancer and surrounding normal tissues“. Clin. Chem. Lab. Med. Gołkowski F, Szybiński Z, Rachtan J và đồng nghiệp (tháng 8 năm 2007). „Iodine prophylaxis–the protective factor against stomach cancer in iodine deficient areas“. Eur J Nutr 46 (5): 251-6. PMID 17497074. doi:10.1007/s00394-007-0657-8. Inoue H, Kudo SE, Shiokawa A (tháng 1 năm 2005). „Technology insight: Laser-scanning confocal microscopy and endocytoscopy for cellular observation of the gastrointestinal tract“. Nat Clin Pract Gastroenterol Hepatol 2 (1): 31-7. PMID 16265098. doi:10.1038/ncpgasthep0072. Pentenero M, Carrozzo M, Pagano M, Gandolfo S (tháng 7 năm 2004). „Oral acanthosis nigricans, tripe palms and sign of leser-trélat in a patient with gastric adenocarcinoma“. Int. J. Dermatol. 43 (7): 530-2. PMID 15230897. doi:10.1111/j.1365-4632.2004.02159.x. Scartozzi M, Galizia E, Verdecchia L và đồng nghiệp (tháng 4 năm 2007). „Chemotherapy for advanced gastric cancer: across the years for a standard of care“. Expert Opin Pharmacother 8 (6): 797-808. PMID 17425475. doi:10.1517/14656566.8.6.797. Macdonald JS, Smalley SR, Benedetti J và đồng nghiệp (2001). Chemoradiotherapy after surgery compared with surgery alone for adenocarcinoma of the stomach or gastroesophageal junction“. N. Engl. J. Med. WHO Disease and injury country estimates“. Parkin DM, Bray F, Ferlay J, Pisani P (2005). Global cancer statistics, 2002″. CA: a Cancer Journal for Clinicians 55 (2): 74-108. PMID 15761078. doi:10.3322/canjclin.55.2.74. Are the number of cancer cases increasing or decreasing in the world? WHO Online Q&A. WHO. Stomach cancer – symptoms, causes and treatment“. Stomach cancer symptoms: Cancer Research UK“. Simsa J, Leffler J, Hoch J, Linke Z, Pádr R (2004). Gastric cancer in young patients–is there any hope for them? Gastric Cancer in Young Adults“. Revista Brasileira de Cancerologia – Volume 46 n°3 Jul/Ago/Set 2000. Inca.gov.br.

Loét da bìu hay còn gọi loét da bao quy đầu gây khó chịu và nếu không được chữa trị nó thể gây hoại tử và ảnh hưởng tới cuộc sống sau này của người bệnh. Dưới đây là một vài nguyên nhân gây loét da bao quy đầu và cách điều trị nên biết. Hiện tượng này thường ít xuất hiện và nó có thể do nhiều nguyên nhân như việc vệ sinh không đúng cách, lười vệ sinh, bệnh lý sinh dục… dưới đây là một số nguyên nhân gây loét da bìu. Triệu chứng ban đầu của bệnh là xuất hiện những mụn mủ sau đó những mụn này bị vỡ gây loét và đau rát, lúc này vùng bìu đã bị viêm da. Điều trị: khi những mụn mủ vỡ ra nên dùng tăm bông tẩm nước muối sinh lý lau sạch mủ ở mụn, lau khô vùng mụn sau đó xịt băng vết thương dạng xịt Nacurgo lên bảo vệ vết loét. Lời khuyên: khị bị những mụn mủ bạn nên mặc quần áo rộng, thoáng, hạn chế chạm vào vết loét để vết loét nhanh lành.